Loading ...
Sorry, an error occurred while loading the content.

1405Fw: Tiểu sử Lê Xuân Nhuận tác giả sách Biến Loạn Miền Trung

Expand Messages
  • Nhuan Xuan Le
    Apr 26, 2012
    • 0 Attachment

      GIỚI-THIỆU TÁC-GIẢ

      LÝ-LỊCH:

      *Tên thật: Lê Xuân Nhuận.
      *Ngày sinh: 02-01-1930.

      *Nơi sinh: Huế.
      *Quê cha: chính-quán Làng Phượng-Lâu, Phủ Kim-Ðộng, Tỉnh Hưng-Yên; sinh-quán Hà-Nội (Bắc-Việt).
      *Quê mẹ: chính-quán Làng An-Cựu, Huyện Hương-Thủy, Tỉnh Thừa-Thiên; sinh-quán Huế (Trung-Việt).

      BÚT-DANH:

      *Thanh-Thanh (thơ);
      *Kiều-Ngọc (truyện, tùy-bút);
      *Nguyệt-Cầm (kịch, kịch thơ);
      *Nguời Thơ (thi-thoại, bình+luận thơ);
      *Tú Ngông (thơ trào-phúng);

      *Lê Chân-Nhân (thời-đàm);

      *Đức Cố Lê (biên-khảo);
      *V.v...

      NGHỀ-NGHIỆP & HOẠT-ÐỘNG:

      >>   TRƯỚC THÁNG TƯ ÐEN 1975:

      *Phục-vụ trong ngành Hình-Cảnh Quốc-Gia tại Huế;

              *1947-54: Cộng-tác với các báo đối-lập "Công Lý" và "Dân Đen" tại Huế.  Xuất-bản đặc-san "Mùa Gặt Mới". Bị tù 3 tháng (10-12/1949) vì viết cuốn truyện dã-sử "Trai Thời Loạn" ngụ-ý chống Pháp thực-dân và Bảo-Ðại bù-nhìn.
      *Phục-vụ trong Quân-Lực Quốc-Gia và Việt-Nam Cộng-Hòa tại Ðệ-Nhị Quân-Khu;
      *Làm phóng-viên chiến-tranh, biên-tập-viên báo-chí Quân-Đội, giảng-sư Chiến-Tranh Tâm-Lý, Giám-Ðốc chương-trình phát-thanh "Tiếng Nói Quân Ðội" tại Ðệ-Nhị Quân-Khu;

                  *1954-56: Dùng Ðài "Tiếng Nói Quân-Ðội tại Ðệ-Nhị Quân-Khu" để công-khai chống lại phe trung-tướng Nguyễn Văn Hinh (Tổng-Tham-Mưu Trưởng) & đại-tá Trương Văn Xương (Tư-Lệnh Ðệ-Nhị Quân-Khu) là tay sai của Pháp, kêu-gọi mọi giới đồng-bào ủng-hộ chí-sĩ Ngô Ðình Diệm.  Là người đầu tiên ở Miền Trung công-khai và chính-thức góp phần hữu-hiệu củng-cố địa-vị Thủ-Tướng cho ông Ngô Đình Diệm vượt qua khó-khăn từ những ngày đầu.
      *Dạy tiếng Anh trên Ðài Phát-Thanh, tại một số công-sở và tư-gia ở Huế; tại trường trung-học Duy-Tân ở Buôn Ma Thuột, v.v...  Là người đầu tiên trên thế-giới dạy tiếng Anh cho người Việt qua làn sóng vô-tuyến truyền-thanh.

               *1956-60: Bị quản-thúc 3 tháng (05-8/1960) rồi bị kết tội phản-động; đày lên Cao-Nguyên (vùng "nước độc và nguy-hiểm"); theo-dõi hành-vi chính-trị; và cấm giữ các chức-vụ quan-trọng, thăng+thưởng, xuất-ngoại, về các thành-phố miền xuôi...  Là người đầu tiên công-khai chỉ-trích các sai+lầm của chế-độ Ngô Ðình Diệm, ngay tại cơ-quan Cảnh-Sát Huế trong một buổi "học-tập chính-trị và công-dân giáo-dục" (do Cố-Vấn Ngô Ðình Nhu chỉ-đạo), vào ngày Lễ Hai Bà Trưng (03-3-1960), trước các hành-động chống-Diệm của các nhân-vật khác tại Saigon và các nơi khác.
              *1960-75: Phục-vụ trong Lực-Lượng Ðặc-Cảnh Quốc-Gia; Giám-Đốc cơ-quan An-Ninh & Phản-Gián lần-lượt tại Cao-Nguyên Trung-Phần, Vùng II Chiến-Thuật, và Khu (Vùng) I Việt-Nam Cộng-Hòa (cho đến 29-3-1975 là ngày thất-thủ Ðà-Nẵng, cứ-điểm cuối-cùng của Quân-Khu I).

               *1967: Can-thiệp với CIA để phá vỡ âm-mưu đảo-chính nội-bộ do nhóm Nguyễn Cao Kỳ & Nguyễn Ngọc Loan cầm đầu, giữ nguyên chức-vị Tổng-Thống cho trung-tướng Nguyễn Văn Thiệu.

               *1971: Bị giáng-chức rồi theo-dõi liên-tục vì chống khuynh-hướng quân-phiệt dưới thời Ðệ-Nhị Cộng-Hòa.  Là người duy-nhất công-khai chống lại chính-sách "quân-cách-hóa" Hành-Pháp (do đó ít nhất là làm giảm sút hiệu-năng của cơ-quan chuyên-môn chủ-yếu về an-ninh, chính-sự, và hình-sự của Chính-Quyền - là Cảnh-Sát Quốc-Gia).

               *1973-75: Là viên-chức dân-sự mà xin và được Trung-Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư-Lệnh Quân-Khu I, cho quyền chủ-trì công-tác của mọi cơ-quan đơn-vị an-ninh quân+dân tại các vùng có dân-cư, nên đã vô-hiệu-hóa được mọi hoạt-động của CSVN tại khắp các thành-phố/thị-xã thuộc Vùng I trong suốt một năm rưỡi cuối-cùng của VNCH.

                Cũng thời-gian trên, là viên-chức duy-nhất khởi-xướng và thực-hiện hữu-hiệu việc móc nối tuyển-dụng nhiều sĩ-quan Ba-Lan và Hung-Gia-Lợi trong Ủy-Hội Quốc-Tế tại Việt-Nam để rồi, sau khi về nước, họ đã hoạt-động nội-tuyến cho CIA trong Ðảng, Nhà Nước và Quân Ðội của họ, dọn đường cho các biến-cố lật đổ cộng-sản tại Ba-Lan, Hung-Gia-Lợi và Đông-Âu sau này (mãi đến cuối năm 1978, hơn 3-4 năm sau, Hồng-Y Karol Jozef Wojtyla của Ba-Lan mới lên làm Giáo-Hoàng, tức John Paul II; và qua năm sau nữa, năm 1979, Giáo-Hoàng John Paul II mới về thăm Ba-Lan lần đầu tiên).

      >>   SAU QUỐC-BIẾN 1975:

      *Bị Cộng-Sản Việt-Nam bắt tập-trung "cải-tạo" hơn 12 năm (từ 17-4-1975 đến 20-4-1987), rồi quản-chế tại-gia nhiều năm sau khi về nhà;
      *Tái định-cư tại Hoa-Kỳ, theo diện tị-nạn chính-trị,  từ ngày 17-1-1992;
      *Hiện cư-ngụ tại thành-phố Alameda (Bắc California).

      HOẠT-ÐỘNG & TÁC-PHẨM:

      >>   TẠI QUỐC-NỘI (TRƯỚC 1975):

      *Chủ-trương đoàn thi+văn và nhà xuất-bản "Xây Dựng";
      *Ðã ấn-hành nhiều tuyển-tập thơ+văn của nhiều nam+nữ thi+văn-hữu Bắc, Trung, và Nam;

      *Là người đầu tiên làm thơ ca-tụng vợ (qua tập thơ "Tuần Trăng Mật") khi tuổi còn trẻ và vợ còn sống (Đông-Hồ chỉ khóc vợ khi vợ đã chết rồi).
      *Ðược công-nhận thành-quả văn-học của mình trong "Ðại-Hội Văn-Hóa Toàn-Quốc", đại-hội văn-hóa duy-nhất của Việt-Nam Cộng-Hòa, do nhà văn Lê Văn Siêu thụ-ủy thực-hiện tại thủ-đô Sài-Gòn
      (khai-mạc ngày 11 tháng 1 năm 1957) là một cành trong "Cây Ða Văn-Hiến Việt-Nam".

               **   Ðã xuất-bản:

      * Thơ: "Ánh Trời Mai"; "Ánh Trời Mai" tái-bản; "Ánh Trời Mai" tập mới; "Kiếm Xuân-Thu"; "Nhạc Ngày Xanh" (chung với Như Trị, Xuân Huyền, va` Hoài Minh); "Lá Thu Rơi" (chung với nhóm Khánh Sơn); "Tuần Trăng Mật"; "Với Thượng Ðế"; 
      * Kịch Thơ: "Quán Bên Sông";
      * Truyện Ngắn: "Ray-Rứt";
      * Tạp-văn: "Nắng Mới"; "Mùa Gặt Mới" các tập I, II, và III (chung với đồng-Nhóm "Xây Dựng" và các Nhóm bạn);

               **   Ðã công-diễn và đăng-tải:

      * Kịch Thơ: "Hồ Quý Ly"; "Lữ Gia"; "Quán Bên Sông"; "Gươm Chính-Nghĩa"; "Ông Ba Kẹ"; "Tiếng Trẻ Khóc"; "Dòng Lệ Tố-Như"; "Lão Ăn Mày"; "Dòng Thác Lũ"; "Bức Tranh Tàu"; "Nắm Xương Khô"; v.v...
      * Kịch Văn: "Thằng Con Trai"; v.v...

      >>   TẠI HẢI-NGOẠI (SAU 1975):

      *Góp bài theo lời mời cho một số tạp-chí tiếng Việt tại Hải-Ngoại, và thơ tiếng Anh cho nhiều nhà xuất-bản thơ của Mỹ và Anh, cũng như trong nhiều Nhà Mạng trên liên-mạng truyền-thông toàn-cầu;

      *Chủ-trương sáng-tác bằng tiếng Anh, hoặc phiên-dịch qua tiếng Anh, các tác-phẩm của người Việt;

      *Phát-hiện ra "Đức Mẹ La Vang" là chuyện bịa; và chính Đức Giáo-Hoàng John Paul II đã xác-nhận như thế (La Vang);
      *Hiện là hội-viên của Văn Bút Quốc-Tế (PEN International) qua Trung-Tâm Hoa-Kỳ (PEN USA); thành-viên trọn đời của Hiệp-Hội Quốc-Tế Thi-Nhân ("International Society of Poets"); thành-viên của một số Hội Thơ khác;

              **  Ðã có thơ được chọn in trong hơn 30 tuyển-tập thơ tiêu-biểu tại Mỹ và Anh:

      *Do "The National Library of Poetry":

              "Wind in the Night Sky" 1993;

              "Best New Poems" 1994;

              "Outstanding Poets of 1994";

              "The Sound of Poetry" (audio tape) 1994;

              "Best Poems of 1995";

              "Best Poems of 1997";

              "Outstanding Poets of 1998";

              "Best Poems of the '90s";

      *Do "The International Library of Poetry":

              "A Celebration of Poets" 1998;

              "Letters From My Soul" 2001;

              "The Best Poems and Poets of 2002";

              "The Colors of Life" 2003;

               "Forever Spoken" 2007;

                  "The Best Poems and Poets of 2007" 2008;

               "Forever Spoken" 2008;

      *Do "The Poets' Guild":

              "Best New Poems, 1994";
      *Do "Who's Who in New Poets":

              "Who's Who in New Poets, Volume I" 1996;
      *Do "Famous Poets Society":

              "On the Wings of Pegasus" 2000;

              "New Millennium Poets" 2002;

              "Our 100 Most Famous Poets - the Brief Chronicles of Our Time" 2004;

              "Great Poems of the Western World" 2005;

               "Great Poems of the Western World" 2009;

      *Do "Noble House" (United Kingdom):

              "Theatre of the Mind" 2003;

              "Colours of the Heart" 2004;

              "Labors of Love" 2005;

      *Do "League of American Poets":

              "A Treasury of American Poetry III" 2007;

               "Expressions 2" 2007;

               "Expressions 3" 2007;

      *Do "Jukebox Press" (PEN Center Oakland, California):

               "Oakland Out Loud" 2007;

      *Do "The Poet Sanctuary":

               "Splash of Verse" 2007;

      V.v...

              **  và trong các tạp-chí văn-học tại Mỹ:

               "Poetry" (Poetry Foundation) 2001;

               "WordBridge" (The Writers Post) 2002-2005;

      V.v...

              **  Ðã góp phần phiên-dịch trong các tuyển-tập thơ Việt-Mỹ tại Hoa-Kỳ:

      *"The Silence of Yesterday" của "Cơ Sở Thi Văn Cội Nguồn" của Song Nhị ở San Jose, Bắc California;
      *"Flowers of Love" 1, 2, 3, 4 của "Hội Thơ Tài-Tử Việt-Nam" của Như Hoa ở Dallas, Texas;

      *"The Old Days" của Như Hoa ở Sacramento, Bắc California;

      *"Poems in Rain & Flowers" của Vi Khuê ở Burke, Virginia;

      *V.v...

              **  Ðã xuất-bản:

      *"Về Vùng Chiến-Tuyến", hồi-ký  (ISBN 1-886566-15-1), Văn Nghệ, 1996;
      *"Cơn Ác-Mộng", thơ (LCCN 98-090684 - ISBN 0-9665293-0-8), Thế-Giới Mới và Xây-Dựng, 1998;

      *"Cảnh-Sát-Hóa, Quốc-Sách Yểu-Tử của Việt-Nam Cộng-Hòa", hồi-ký (LCCN 2001097126 - ISBN 0-9665293-7-5), Xây-Dựng, 2002;

      *"Việt-Nam Cộng-Hòa - Cảnh-Sát-Hóa: Quốc-Sách Yểu-Tử", hồi-ký (LCCN 2003106623 - ISBN 0-9665293-8-3), Xây-Dựng, 2005.

      *"Poems by Selected Vietnamese", thơ tiếng Anh (LCCN 2005906908 - ISBN 0-9763498-1-7), Xay-Dung, 2005.

               **  Sắp phát-hành:

      *"Miền Ðất Hứa" (thơ);

      *"This Land of Promises" (thơ tiếng Anh);

      *"Poems by Renowned Vietnamese" (thơ tiếng Anh -- dịch từ tác-phẩm của một số nhà thơ Việt-Nam);

      *V.v...

      Xem thêm


      ______________________________________________________________________________________________

      Về CỔNG CHÍNH

       
       
       
       
       


      --- On Wed, 4/25/12, Pham Hoaiviet <phamhoaiviet1@...> wrote:

      From: Pham Hoaiviet <phamhoaiviet1@...>
      Subject: [Nuoc_VIET] [DuLuanBolsa]Tiểu sử của tác giả sách Biến Loạn Miền Trung và lời phê bình ngoại lề .
      To:
      Date: Wednesday, April 25, 2012, 7:18 PM

       

      Tiểu sử Lê xuân Nhuận :

       

      Nam Thy rất đẹp , nổi tiếng Huế, nhiều đời chống nhất miến Trung thời đó .

      Bà Nam Thy vì nhà nghèo , nhưng có sắc đẹp . Từ Huế trôi nổi về Thanh Hóa , chồng thứ ba làm lẽ cho  tri phủ Tịnh Gia Thanh Hóa , tên là Lê Xuân Hoạt ( kẻ bắt giam cho Pháp rất nhiều nhà cách mạng chống Pháp tại phủ Tịnh Gia nầy , được bằng khen của nhà cấm quyền Pháp tại Hà Nội …với đời chồng nầy mà sanh ra Lê Xuân Nhuận

      Rồi Bà Nam Thy bỏ chồng , trở về Thừa Thiên ( Huế ) lấy người chống giáu nhất nhì quân Hương Thủy ( Thừa Thiên- Huế ) tên chồng mới là Lê Văn Tấn .

      Với chồng Lê văn Tấn thì Bà Nam Thy sanh ra Lý Văn TốngLê Vạn Vọng ( Lê Văn Tống tức là Lý Tống hôm nay. )

      Điều kỳ lạ là chung một mẹ , vì khác nhiều cha nên tánh tính khác nhau một trời một vực.

      Lê Xuân Nhuận thì gia nhập Đảng Cộng sản tại Hương Thủy năm 1965.

      Còn Lê Văn Tống ( tức Lý Tống ) lại là người hùng chống cộng triệt để . Bị Cộng sản giam cầm thời gian dài.

      Qua Hoaky thì Lê Văn Tống ( tức Lý Tống ) học xong bằng đại học B.A tại University USA .

      Riêng Lê Xuân Nhuận thì nòi giống cha , rất ghét những người chống cộng sản , khi qua Mỹ thì không bao giờ đến trường học .

      Cho nên cùng mẹ khác cha là vậy . Kẻ có bằng đại học làm mẹ là bà Nam Thy vui dạ , kẻ vô học làm mẹ là Bà Nam Thy buồn tủi với thiên hạ.

       

       

      Thu, 4/26/12, Nhuan Xuan Le <lechannhan@...> wrote:


      From: Nhuan Xuan Le <lechannhan@...>
      Subject: [ChinhNghiaViet] Thanh-Niên KTG bênh-vực PG
      To: "Nhuan Le" <ThiNhanVietNam@...>
      Date: Thursday, April 26, 2012, 2:15 AM

      ... Năm 1960, tôi bị đày lên xứ Thượng và bị “mật theo-dõi hành-vi chính-trị”, nghĩa là tôi thuộc thành-phần “phản-loạn” (dưới chế-độ Diệm không có “đối-lập”). Trớ-trêu thay, tôi được Giám-Đốc Cảnh-Sát Công-An trên này (hồi đó là Thiếu-Tá Nguyễn Văn Luận) cử làm Trưởng Ban Điều-Tra Đặc-Biệt của Nha, bất-chấp lệnh cấm của Tổng-Nha. Nhiệm-vụ và quiền-hạn của tôi là bắt giữ, thẩm-vấn và lập hồ-sơ truy-tố các vụ vi-phạm, cả hình-sự lẫn chính-trị, khắp các Tỉnh ở cựu-Hoàng-Triều Cương-Thổ này. 

       

      Tại thủ-phủ của Cao-Nguyên, tôi đã đối-diện với nhiều tín-đồ Kitô-Giáo, vừa là thanh-niên học-thức, vừa là chấp-sự thân-cận của các Cha Xứ ở các Địa-Điểm Dinh Điền và Khu Trù Mật nổi tiếng thịnh-vượng và an-ninh của đồng-bào Miền Bắc di-cư, như Châu Sơn, Kim Châu Phát, Khuê Ngọc Điền, v.v..

      (trang 394)

       

      Về mặt chính-trị nội-bộ, các thành-viên Kitô-Giáo bị báo-cáo là có ngôn-ngữ và thái-độ chống-đối Chính-Quyền, mà tôi lần-lượt mời đến hỏi cung, đều mạnh-dạn vạch rõ sai-lầm của chế-độ Diệm trong vấn-đề tôn-giáo, và khẳng-định rằng họ phản-đối mọi âm-mưu và hành-động của những kẻ đàn-áp Phật-Giáo. Chính Linh-Mục Nguyễn Viết Khai, là cha đỡ-đầu của Diệm, mà cũng chống Diệm về vấn-đề này. Theo họ, Thánh-Kinh tức là Lời Chúa, có khuyến-khích con chiên mở rộng Hội Thánh, nhưng bằng rao-giảng chứ không phải bằng bạo-lực hay mồi-bả vật-chất của thế-gian. 

       

      Biên-Tập-Viên Nguyễn Hữu Liêm (về sau làm Trưởng Ty Cảnh-Sát Quốc-Gia Tỉnh Darlac, sau này là Thiếu-Tá) và Thẩm-Sát-Viên Nguyễn Giang, ngồi cùng phòng với tôi, vừa làm việc vừa liếc nhìn tôi mà cười. 

       

      Mà buồn cười thật, chính tôi cũng tự cười mình: một viên-chức an-ninh bị chế-độ trừng-phạt vì chống-đối chế-độ mà lại nhân-danh chế-độ đứng ra bắt lỗi những phần-tử cũng chống-đối chế-độ như mình! 

      Không lâu trước ngày tôi bắt đầu điều-tra các đối-tượng này, ở Ban Mê Thuột đã xảy ra một cái chết gây sôi-nổi dư-luận gần xa.

      Nguyên dưới quyền của Biên-Tập-Viên Liêm có một Đội Biệt-Kích Công-An, chuyên đi lùng diệt Việt-Cộng tại khắp các tỉnh Cao-Nguyên.

      Một hôm, có một đội-viên tên Nguyễn Văn Nam, cùng với đồng-đội mới đi công-tác về, bị mót đại-tiện nên vừa từ trên xe nhảy xuống là đã vội-vàng chạy tuốt vào trong nhà tiêu. Vì gấp-rút và không có gì khác hơn nên anh đã dùng một mảnh giấy báo mà lau hậu-môn. Ngẫu-nhiên có một đội-viên khác, cũng vào cầu-tiêu, trông thấy mảnh giấy báo của Nam có in ảnh của Tổng-Thống Ngô Đình Diệm, nên lưu-ý anh về việc này. 

      Người bị bắt gặp quả-tang “phạm-thượng” đã rút súng tự bắn vào đầu chết ngay tại chỗ―Anh sợ bị đưa ra “phê-bình” trong các buổi “Học-Tập Chính-Trị và Công-Dân Giáo-Dục”, và sau đó là những hậu-quả khôn lường. 

      (trang 395)

       

      Một số trong các tín-đồ Kitô-Giáo nói trên, trong lúc khai-cung, đã đề-cập với tôi về vụ đó, và một người đã chất-vấn tôi:

       

      – Dưới thời Nho-Giáo cực-thịnh, mọi người đều phải tôn-trọng ngay cả bất-cứ một mảnh giấy nào trên đó có Chữ Nho, vì Chữ Nho là biểu-tượng của Đạo Nho, của Đức Khổng-Tử. Tuy thế, nếu có kẻ dùng sách giấy có Chữ Nho, hình-ảnh Đức Khổng-Tử, mà lau hậu-môn, thì kẻ ấy chỉ bị quở mắng, hoặc bị đánh đòn, một lần rồi thôi, chứ có ai vì cái lỗi ấy mà bị hành-hạ tàn-nhẫn đến độ thà tự-tử chết còn hơn để bị bắt giam? Qua cái chết của anh ấy, cũng là đồng-nghiệp Công-An với các anh, các anh nghĩ sao về chế-độ này ? 

      Các anh Liêm và Giang đã đồng-ý với tôi, dẹp bỏ biên-bản chấp-cung, để cho các phần-tử “Công-Giáo công-chính” ấy tự tay viết các lời khai theo ý của họ, xong để cho họ ra về tự-do, rồi đệ-trình hồ-sơ lên Cấp Trên “để tuỳ-nghi thẩm-định” với cái đề-nghị đã trở thành công-thức là “tiếp-tục mật theo-dõi hành-vi chính-trị” của các đương-nhân..

      (trang 396)

      trích từ “Biến-Loạn Miền Trung”)

       

      Chú-Thích:

      Cấp Trên của chúng tôi hồi đó là Thiếu-Tá Nguyễn Văn Luận. Về sau, ông làm Tỉnh-Trưởng Tỉnh Bình-Định, rồi làm Giám-Đốc Cảnh-Sát Quốc-Gia Đô-Thành Sài-Gòn, thăng cấp Đại-Tá, rồi bị tử-nạn trong vụ phi-cơ Đồng-Minh bắn lầm vào Bộ Chỉ-Huy Hành-Quân (phe Thiếu-Tướng Nguyễn Ngọc Loan) tại Chợ Lớn vào vụ Tết Mậu-Thân 1968. 

       

      LÊ XUÂN NHUẬN



           Có kẻ lập-luận rằng chính Phật-Giáo tranh-đấu lật đổ Đệ Nhất Cộng Hòa rồi lại tiếp-tục tranh-dấu dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa, đưa đến mất nước vào Ngày 30 Tháng 4 Năm 1975 [sic]

           Lê Xuân Nhuận đã sưu-tập được một số sự-kiện & tài-liệu lịch-sử, chứng-minh rằng vụ sụp đổ của VNCH vào Tháng Tư Đen năm 1975 không phải là do Phật Giáo gây nên, mà do một thế-lực khác, không chỉ ở trong phạm-vi quốc-gia mà cả ở trên bình-diện quốc-tế, suốt từ 1968 cho đến 1975 (không kể Do-Thái, Trung-Cộng, Hoa-Kỳ) .

           Muốn biết chi-tiết xin mời đọc cuốn “Biến-Loạn Miền Trung”.

       Sách dày 500 trang

      khổ 5.5”x8.5”

       

      Tại Nam Cali :

      Nhà sách Tự Lực

      Tại Bắc Cali:

      Các Nhà sách Hương Giang & Tự Do

       

      Trong Hoa-Kỳ:

      Gửi 20USD (bao luôn cước-phí)

      Loc Le

      1707 Webster Street

      Alameda, CA 94501-2135

       

       

       www.LeXuanNhuan.com