Loading ...
Sorry, an error occurred while loading the content.

VietTUDAN/30.07.09: SUY NIEM PHUC AM HANG TUAN

Expand Messages
  • NGUYEN PHUC LIEN
      VietTUDAN/30.07.09: SUY NIEM PHUC AM HANG TUAN     TEXT : (Xin Bấm (Click) vào Tựa Đề hoặc những Đề Mục dưới đây để đọc
    Message 1 of 1 , Aug 1, 2009
    • 0 Attachment

       

      VietTUDAN/30.07.09: SUY NIEM PHUC AM HANG TUAN

       

       

      TEXT :

      (Xin Bấm (Click) vào Tựa Đề hoặc những Đề Mục dưới đây để đọc dạng chữ UNICODE)

       

       

      3- TOT DAO DEP DOI

      Suy niệm Phúc Aâm:

       

       

      TA LÀ BÁNH TRƯỜNG SINH.

      AI ĐẾN VỚI TA,

      KHÔNG HỀ PHẢI ĐÓI;

      AI TIN VÀO TA KHÔNG HỀ PHẢI KHÁT

       

       

      SUY NIỆM PHÚC ÂM ( III B 41); ( 02.08.20099; ( Jn 6, 24- 35)

      CHÚA NHẬT XVIII PHỤNG VỤ THƯỜNG NIÊN, NĂM B

       

       

       

      Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP

       

       

       

      Chương 6 Phúc Âm Thánh Gioan là một chương đặc biệt, dài một cách bất thường và cũng là chương duy nhứt trong các Phúc Âm ghi lại thời gian  

      lâu dài Chúa Giêsu ở Galilea.

      Đọc đoạn chương Phúc Âm vừa kể chúng ta có cảm tưởng đang ngắm một chuổi các bức tranh trên trần nhà thờ đầy màu sắc và tâm tình cảm kích.

       

      Lấy lại chủ đề từ biến cố phép lạ hoá bánh ra nhiều, chúng ta cũng có được trong các Phúc Âm Thánh Matthêu, Thánh Marco và Thánh Luca khởi đầu từ nội dung như nhau  của biến cố, Thánh Gioan  suy diễn thêm ra các tâm tư của ngài và mời gọi chúng ta cùng suy tư với ngài về con người Chúa Giêsu được diễn tả là " Bánh hằng sống".

      Đoạn Phúc Âm hôm nay ( Jn 6, 24-35) là phần đầu của ý nghĩa suy niệm và xác nhận căn tính con người Chúa Giêsu như vừa đề cập, phần còn lại của chương 6 sẽ còn được lấy lại để suy niệm trong ba Chúa Nhật kế tiếp.

      Diễn biến của đoạn Phúc Âm hôm nay được được khai triển dựa trên các câu hỏi của các người Do Thái hôm đó, đươn kết với các câu trả lời của Chúa Giêsu, làm cho chúng ta càng lúc cành hiểu rõ hơn căn tính sâu thẩm con người của Người:

         - " Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy ? ".

         - " Chúng con phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?".

         - " Vậy Thầy, Thầy làm được dấu lạ nào cho chúng con thấy để tin Thầy? " ( Jn 6, 25.28. 30).  

       

      1 - Lý do khiến Chúa Giêsu giảng dạy lâu dài trong hội đường Capharnaum.

      Lý do khiến Chúa Giêsu phải giải thích lâu dài trong hội đường ở Capharnaum là vì dân chúng đi theo tìm cho ra Đấng đã làm phép lạ hóa bánh và cá ra nhiều trước đó ( Jn 6, 1-15).

      Chủ để " tìm kiếm cho ra, khám phá ra " là một trong những chủ đề mà Thánh Gioan rất quan tâm, trong Phúc Âm ngài.

      Dĩ nhiên mỗi trường hợp và mỗi người " tìm kiếm cho ra, khám phá ra " có những lý do và tùy theo cá nhân của đương sự.

         - Ông Andrea và người bạn của ông ao ước tìm cho được Chúa Giêsu:

           * " Quay lại, Chúa Giêsu thấy các ông đi theo mình, Người hỏi: " Các anh tìm gì vậy?". Các ông đáp: " Rabbi, ( có nghĩa là thưa Thầy), Thầy ở đâu?". Người bảo các ông " Đến mà xem". Các ông đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy..." ( Jn 1, 38-39).

       

         - Bà Maria Madalena thất vọng khám phá ra ngôi mộ trống:

          * " Người ta đã lấy mất Chúa tôi rồi, và tôi không biết họ để Người ở đâu " ( Jn 20, 13).

       

         - Nhưng cũng có trường hợp tìm kiếm vì hiếu kỳ và không kết thúc được gì, như trường họp các người Do Thái trong Phúc Âm hôm nay. Họ ra công tìm kiếm Chúa Giêsu, vì đã được ăn bánh no nê trước đó.Họ chĩ nhìn thấy được những dấu chỉ bên ngoài, nhưng họ chỉ hiểu được bánh như là thức ăn chớ không nghĩ đến bánh mà mình được ăn là ơn Chúa ban cho.

      Được ăn bánh, họ chỉ thấy được tầm quan trọng bên ngoài và phiến diện của thức ăn, chớ chưa có khả năng đặt được câu hỏi sâu đậm hơn làm thay đổi cuộc sống của mình.

      Bởi đó câu hỏi của họ đơn sơ, chỉ là hỏi lên liên tưởng đến những gì Chúa Giêsu đã làm cho họ no nê trước đó:

         - " Thưa Thầy, Thầy đến đây bao giờ vậy?" ( Jn 6, 25). 

      Câu hỏi vừa kể cho thấy hỏi để thoả mãn tính hiếu kỳ và cũng để nhằm lợi nhuận vật chất, mà Chúa Giêsu có thể đáp ứng khi cần cho họ trong tương lai.

       

      Câu trả lời của Chúa Giêsu lột trần tính cách phiến diện, nhằm lợi ích tức thời của họ. Đồng thời đó cũng là cơ hội, để Chúa Giêsu nâng cao tầm trí hiểu biết của họ lên:

         - " Thật, Ta bảo thật các ông, các ông tìm Ta không phải vì các ông đã thấy dấu lạ, nhưng vì các ông đã được ăn bánh no nê. Các ông hãy ra công làm việc, không phải vì lương thực mau hư nát, nhưng để có lương thực trường tồn, đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận" ( Jn 6, 26-27).

       

      Qua câu chuyện được Phúc Âm thuật lại, chúng ta thấy rằng vấn đề có được thức ăn hằng ngày ( kể cả những vấn đề hằng ngày trong cuộc sống phải giải quyết ) có tầm quan trọng của nó, bởi đó Chúa Giêsu đã không từ chối hoá bánh và cá ra nhiều để giải quyết nhu cầu vật chất của dân chúng.

      Tuy nhiên, việc Chúa Giêsu can thiệp để giải quyết nhu cầu vật chất, còn hàm chứa mời gọi chúng ta hướng tầm mắt lên đến một chiều hướng khác, chiều hướng cũng liên quan đến nhu cầu thiết yếu của con người, bởi lẽ chiều hướng đó cũng liên hệ đến cuộc sống đích thực của con người:

       

         - " Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Chúa phán ra" ( Mt 4, 4).

       

      Bánh giải quyết nhu cầu sống của con người,  là cơ hội và cũng là hình ảnh ám chỉ đời sống bất diệt. Đời sống đó, con người không thê tự mình tạo ra được, mà là ơn Chúa ban cho, chúng ta lãnh nhận được qua Chúa Con:

       

         - " ..., nhưng để có lương thực trường tồn, đem lại hạnh phúc trường sinh, là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận" ( Jn 6, 27).

       

      Và bởi vì thức ăn mới là ơn Chúa ban cho, con người chỉ có thể hưởng thụ được, tương đương với khả năng và lòng mở rộng đón nhận của mình.

      Ơn Chúa ban cho trong thức ăn vừa kể làm cho người môn đệ tham dự vào chính đời sống hạnh phúc viên mãn và bất tận của Thiên Chúa, như nguồn nước mà Chúa Giêsu đã hứa với người thiếu phụ Samaritana:

       

          - " Và nước Ta cho sẽ trở thành nơi người ấy như một mạch nước vọt lên đem lại sự sống đời đời " ( Jn 4, 14).

       

      Đó là địa vị và đời sống của người tín hữu Chúa Ki Tô sau ngày nhận được Phép Rửa, được chìm ngập vào đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa:

       

         - " Vậy, anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần..." ( Mt 28, 20).

       

      2 - Dân chúng hiểu được ý nghĩa và đặt thêm câu hỏi khác.

         - " Chúng con phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn?" ( Jn 6, 28).

      Câu hỏi không biết vô tình hay hữu ý, có ý xa lánh ý nghĩa đích thực của ý nghĩa câu chuyện mà Chúa Giêsu muốn bàn với họ.

      Chúa Giêsu đã đề cập đến một thứ bánh mà Con Người, tức là chính mình Người, sẽ ban cho họ, trong khi đó thì những người đối thoại với Người hỏi Người đâu là " những việc Thiên Chúa muốn":

         - " ..., là thứ lương thực Con Người sẽ ban cho các ông, bởi vì chính Con Người là Đấng Thiên Chúa Cha đã ghi dấu xác nhận" ( Jn 6, 27).

         - " Chúng con phải làm gì để thực hiện những việc Thiên Chúa muốn" ( Jn , 28).

      Trong câu trả lời, Chúa Giêsu gộp tóm " những việc Thiên Chúa muốn" với con người của Người, tao nên mối liên hệ giữa Chúa Cha, Chúa Con và các môn đệ:

         - " Việc Thiên Chúa muốn cho các ông làm, là tin vào Đấng Người đã sai đến" ( Jn 6, 29).

      Chúa Giêsu đặt đối ứng nhau " những việc Thiên Chúa muốn " với một việc thiết yếu duy nhứt, " tin vào Đấng Người đã sai đến".

       

      Đó là điều Thiên Chúa đã thiết định để thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.

      Không có " việc nào khác " có ý nghĩa, đáp ứng trọn hảo là " việc Thiên Chúa muốn" , ngay cả những việc cao cả tốt đẹp được Lề Luật trong Cựu Ước đề cập đến.

      Và như vậy, cũng như tất cả tất cả những việc tốt đẹp " mà Thiên Chúa muốn " đều được quy tựu vào động tác duy nhứt vừa kể, tin vào Chúa Ki Tô, thì tất cả những gì sai trái, lỗi phạm, đi ngược lại ý muốn của Thiên Chúa cũng gồm tóm trong một động tác duy nhứt, đó là không tin vào Người,                        - " không tin vào Đấng Người đã sai đến".

      Qua những gì chúng ta đề cập, đức tin được diễn tả như là một thực thể năng động, tích cực, được thể hiện bằng động tác, mỗi cá nhân thực hiện, liên quan đến cả mọi phương diện của người tín hữu, mọi lãnh vực của cuộc sống và luôn tìm hiểu đâu là " tin vào Đấng Người đã sai đến ", cùng sống và hàng động với Người, khi phải đối phó với những hiện trạng của cuộc sống mà chúng ta gặp phải, theo phương cách như Người đang đứng trước cùng hoàn cảnh với chúng ta. Cuộc sống của người tín hữu Chúa Ki Tô là vậy.

       

      3 - Một câu hỏi kế tiếp để đào sâu thêm ý nghĩa của cuộc thảo luận.

         - " Vậy Thầy, Thầy làm được dấu lạ nào cho chúng con thấy để tin thầy? Thầy sẽ làm gì đây?" ( Jn 6, 30).

      Phép lạ hoá bánh và cá ra nhiều để nuôi dân chúng trước đó là những " dấu lạ " Chúa Giêsu đã chứng tỏ cho họ thấy, nhưng chưa đủ.

      Dân chúng còn muốn xem những " dấu lạ " khác để có thể vững tin.

      Người Do Thái đang trông đợi thời Đấng Cứu Thế với biến cố Manna từ trời rơi xuống trở lại như đã ghi nhận trong sách Khải Huyền của Baruc ( tiếng Syria) :

         - "  Manna lại sẽ từ trời rơi xuống và dân chúng sẽ được ăn no" ( Ap 29, 8).

      Thái độ muốn được xem " dấu lạ " đó được Chúa Giêsu trả lời bằng ba đoạn lý luận:

         -  Manna từ trời xuống, chớ không phải là từ Moisen:

           * " Thật vậy, Ta bảo thật các ông, không phải ông Moisen cho các ông ăn bánh từ trời đâu, mà chính là Cha Ta đã cho các ông ăn bánh bởi trời, bánh đích thực" ( Jn 6, 32). 

       

         - Chính Thiên Chúa là Đấng ban bánh hiện giờ:

          * " Cha Ta ban cho các ông bánh từ trời, bánh đích thực" ( Jn 6, 32).

       

         - Bánh mà Thiên Chúa ban hiện nay là một con người:

          * " Bánh của Thiên Chúa là Đấng từ trời xuống và ban sự sống cho thế gian" ( Jn 6, 33).

      Cần lưu ý đến trạng từ " thật vậy " ( Jn 6, 32), nhấn mạnh đến sự khác biệt trái ngược mà Chúa Giêsu muốn làm cho nổi bậc, diễn tả sự khác biệt giữa bánh của Moisen ban phát cho dân chúng, với ý nghĩa biểu tượng, khác với bánh được Chúa ban cho, bánh mà thực sự Chúa muốn ban cho con người, sánh với Manna, Manna chỉ là biểu tượng tiên báo, là hình ảnh, chớ không phải là sự sống đích thực.

      Bánh đích thực mà Thiên Chúa ban cho chính là Chúa Giêsu Ki Tô.

       

      Sau câu nói vừa kể, những người nghe Chúa Giêsu hôm đó vẫn chưa hiểu và để khỏi phải cực nhọc đổ mồ hôi tìm ra cơm bánh hằng ngày, họ liền xin Chúa Giêsu:

         - " Thưa Thầy, xin cho chúng con được ăn mãi thứ bánh ấy " ( Jn 6, 34),

      hệt như thái độ của người thiếu phụ Samaritana xin được  nước Chúa Giêsu hứa ban cho, để mỗi ngày khỏi phải nặng nhọc ra giếng kéo nước lên và đội lên đầu đem về nhà.

         - " Thưa Thầy, xin Thầy cho con thứ nước ấy, để con hết khát và khỏi phải đến đây lấy nuớc" ( Jn 4, 15).

      Chúa Giêsu trả lời, nói rõ ý nghĩa từng chữ một, cho biết đâu là ý nghĩa chính đáng điều Người muốn nói:

         - " Chính Ta là bánh trường sinh. Ai đến với Ta, không hề phải đói; ai tin vào Ta, chẳng phải khát bao giờ" ( Jn 6, 35).

      Người là Đấng từ Thiên Chúa mà đến, để ai tiếp nhận Người,

         - " ...có được sự sống và sống dồi dào" ( Jn 10, 10).

      Manna trên sa mac cho dân Do Thái với ý nghĩa tượng trưng, được thể hiện trên thực tế bằng sự nhập thể của Chúa Giêsu.

       

      Qua biến cố nhập thể, Chúa Giêsu trở thành bánh hằng sống và ơn cứu rỗi để giải thoát con người khỏi ách tội lỗi, trở lại tình trạng nguyên thủy của mình khi được Chúa dựng nên. Và ơn cứu rỗi không những vậy,  còn làm cho con người được tham dự vào đời sống nội tại của Chúa Ba Ngôi, trở thành con của Người,  từ sau ngày nhận Phép Rửa, con người có quyền gọi Thiên Chúa là Cha ( Lumen Gentium, 2).

      Đó là điều chính Chúa Giêsu dạy chúng ta gọi Cha của Người bằng Cha:

       

         - " Lạy Cha chúng con ở trên trời " ( Mt 6, 9).

       

      Người tín hữu Chúa Ki Tô, sau Phép Rửa và cũng như mỗi khi đón nhận Chúa Thánh Thể, là rước Chúa Giêsu, là rước cả Thiên Chúa Ba Ngôi vào con người của mình, thông hiệp cùng một nhịp sống với Người, sức sống viên mãn và hạnh phúc bất tận mà chúng ta sẽ cảm nhận được khi chúng ta lìa bỏ cuộc sống trần gian, đến gặp Người.

      Ngay từ cuộc sống hằng ngày của chúng ta nơi trần gian nầy, mỗi người tín hữu Chúa Ki Tô  là đứa con đang sống thông hiệp đời sống Chúa Ba Ngôi với Thiên Chúa là Cha mình.

      Không có Chúa Giêsu mạc khải và chỉ dạy cho, không ai có thể dạy cho chúng ta biết và cho phép chúng ta có được một địa vị cao cả và một tương lai sáng lạn như vậy, sống thân tình Cha con với Ba Ngôi Thiên Chúa ngay từ bây giờ, trong cuộc sống hiện tai, mặc cho những trở lực khó khăn còn phải vượt thắng.

      Lạy Chúa là Cha, chúng con cám ơn Cha, cám ơn tình thương vô hạn của Cha đã dành cho chúng con, người tín hữu Chúa Ki Tô.

       

       

      Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN HỌC TẬP

       

       

       

      Tran trong/Best Regards/Respectueusement

      Prof.Dr.NGUYEN  PHUC LIEN, Economist

       

      => Weekdays:  22 Rue du Prieure, CH-1202 GENEVA, Switzerland

      Tel: 0041 22 7318266. Fax: 0041 22 7382808. Mobile: 0041 79 766 65 83

      E-Mail: wimimpactdrlien@...

      => Weekends: 40 Lischenweg, CH-2503 BIEL/BIENNE, Switzerland

      Tel: 0041 32 3652449. Fax: 0041 32 3652449. Mobile: 0041 79 766 65 72

      E-Mail: drlienwimimpact@...

       

       


    Your message has been successfully submitted and would be delivered to recipients shortly.